• VĂN PHÒNG LUẬT SƯ MINH THANH VÀ CỘNG SỰ

  • LUẬT SƯ, QUẢN TÀI VIÊN: NGÔ MINH THÀNH - 0908 393 863 - 035 990 1366

  • CHUYÊN TƯ VẤN, TRANH TỤNG : DÂN SỰ, HÌNH SỰ, THƯƠNG MẠI...

  • MINHTHANH LAW LUÔN TỰ HÀO LÀ LUẬT SƯ CỦA BẠN

     
Tiếng Anh
  » GIỚI THIỆU
Lịch sử hình thành và phát triển nghề luật sư ở Việt Nam
Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền về tay nhân dân, bộ máy tư pháp được tổ chức lại.

 

I. Trước cách mạng tháng 8 năm 1945

Trước khi Việt Nambị thực dân Pháp xâm chiếm, việc xét xử ở nước ta do vua quan phong kiến tiến hành, không có sự tham gia của luật sư. Chỉ sau khi xâm lược Nam kỳ, ngày 26/11/1876 người Pháp ban hành Nghị định về việc biện hộ cho người Pháp hoặc người Việt mang quốc tịch Pháp tại Tòa án Pháp.

Sau khi thiết lập bộ máy cai trị trên toàn lãnh thổ Việt Nam, năm 1884, Toàn quyền Pháp ký Sắc lệnh thành lập Luật sư Đoàn tại Sài Gòn và Hà Nội gồm các luật sư người Pháp và người Việt Nam đã nhập quốc tích Pháp. Các luật sư chỉ biện hộ trước Tòa án Pháp cho người Pháp hoặc người có quốc tịch Pháp.

Với Sắc lệnh ngày 30/1/1911, nhà cầm quyền Pháp đã mở rộng cho người Việt Namkhông có quốc tịch Pháp được làm luật sư.

Sắc lệnh cuối cùng của người Pháp về luật sư là Sắc lệnh ngày 25/5//930 về tổ chức Luật sư đoàn ở Hà Nội, Sài Gòn và Đà Nẵng. Sắc lệnh này đã mở rộng cho các luật sư không chỉ biện hộ ở tòa án Pháp mà cả trước Toà Nam án; không chỉ bào chữa cho người có quốc tịch Pháp mà cả người không có quốc tịch Pháp.

Người Việt Namđầu tiên làm luật sư đó là ông Phan Văn Trường (1876 - 1933). Ông là người làng Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội. Ông tốt nghiệp Đại học luật và làm luật sư tại Paris. Ông là nhà yêu nước. Khi Bác Hồ hoạt động cách mạng tại Paris, đã có thời gian Bác sống tại nhà luật sư Phan Văn Trường.

Một sự kiện lịch sử đáng ghi nhớ là năm 1926, Bác Hồ đã bị Tòa án Vinh của thực dân Pháp kết án tử hình. Ngày 6/6l/931, khi Người đang hoạt động cách mạng ở nước ngoài thì bị cảnh sát Anh bắt ở Hồng Ông. Khi bị bắt Người mang tên là Tống Văn Sơ. Thực dân Pháp tìm mọi cách yêu cầu chính quyền Anh giao Người cho thực dân Pháp ở Đông Dương. Trong tình thế đó, nhờ tài ứng xử tuyệt vời của người và có sự giúp đỡ, bênh vực tích cực của luật sư Lô - dơ - bai (người anh), chính quyền anh ở Hồng Hông đã phải trả tự đo cho Người vào đầu năm 1932. Luật sư Lô - dơ - bai còn giúp Người trốn khỏi Hồng Hông. Sau này với cương vị Chủ tịch nước, Bác Hồ đã mời ông bà Lô - dơ - bai sang thăm Việt Nam như là thượng khách.

II. Sau cách mạng tháng 8 năm 1945

Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Ngày 10/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 46/SL về tổ chức Đoàn luật sư.

Theo Sắc lệnh 46/SL, cách tổ chức các Đoàn luật luật sư trong nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được tạm giữ như Sắc lệnh ngày 25/5/1930 của người Pháp, nhưng Sắc lệnh này có quy định một số vấn đề quan trọng cho phù hợp với chế độ mới như:

- Các luật sư được bào chữa trước tất cả các Tòa án cấp tỉnh trở lên và các tòa án quân sự.

- Điều kiện làm luật sư là: Người Việt Nam không kể nam hay nữ; có bằng cử nhân luật; có hạnh kiểm tốt; đã tập sự 3 năm ở một văn phòng luật sư.

- Đoàn luật sư Sài Gòn và Hà Nội bầu ra hội đồng luật sư nếu thuộc hạt có 10 văn phòng trở lên. Nếu không đủ 10 văn phòng, các luật sư thực thụ lập ra Ban luật sư để điều hành công việc của Đoàn.

Sắc lệnh số 46/SL là sắc lệnh đầu tiên về luật sư của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đã thể hiện sự quan tâm của Chính phủ cách mạng lâm thời và của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với chế định luật sư ở nước ta.

Sắc lệnh số -163/SL ngày 23/3/1946 về tổ chức các Tòa án binh cũng có quy định cho bị cáo có quyền nhờ luật sư bào chữa.

Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được Quốc hội thông qua ngày 9/11/1946, Điều 67 có viết: ''Các phiên tòa đều xét xử công khai, trừ trường hợp đặc biệt, người bị cáo có quyền bào chữa lấy hoặc mượn luật sư.''

Tiếc rằng, Hiến pháp vừa được thông qua, ngày 19l12l1946, cuộc Kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Các tầng lớp nhân dân từ Bắc chí Nam nhất tề cầm vũ khí chống giặc Pháp xâm lược với khẩu hiệu: ''Thà chết không chịu mất nước, thà chết không chịu lám nô lệ một lần nữa''. Trong kháng chiến, các luật sư đều tham gia công tác tại các cơ quan quân, dân, chính, đảng. Trường Đại học pháp lý sơ tán lên Vĩnh Yên, nhưng đến năm 1949 cũrlg phải đóng cửa. Để khắc phục tình trạng thiếu luật sư, Sắc lệnh số 69/SL ngày 18/6/1949 quy định chế định bào chữa viên cho các bị cáo tại các Tòa án. Sắc lệrth số 144/SL ngày 22/12/1949 mở rộng cho người không phải là luật sư cũng được bảo vệ quyền và lơi ích hợp pháp của các đương sự trong các vụ án dân sự.

Sau chiến thắng lịch sử ĐIỆN Biên Phủ (1954) nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền. Miền Namtạm thời dưới quyền kiểm soát của quân đội Pháp và sau là mỹ vào thế chân Pháp hòng chia cắt lâu dài nước ta.

Ở Miền Bắc, ngày 31/12/1958 Quốc hội thông qua Hiến pháp thứ hai của nước Việt Namdân chủ cộng hòa; trong đó Điều 101 quy định: ''Việc xét xử tại các Tòa án nhân dân đều công khai, trừ trường hợp đặc biệt do luật định. Quyền bào chữa của bị cáo được đảm bảo''.

Sau chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử toàn thắng ngày 30/4/1975, đất nước ta đã thống nhất. Hiến pháp năm 1980 và Hiến Pháp năm 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều quy định quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm.Tổ chức luật sư được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự khác về mặt pháp lý.

Đoàn luật sư Thành phố Hà Nội qua các nhiệm kỳ

I. Nhiệm kỳ I từ 11/1984 đến 1/1988

Sau khi nước nhà thống nhất, ngày 18/12/1980 Quốc hội thông qua Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quyền tự do, dân chủ của công dân được quy định tại nhiều điều, trong đó có Điều 133: ''Tòa án thần dân xét xử công khai, từ trường hợp đo luật định. Quyền bào chữa được bảo đảm. Tổ chức luất sư được thành lập để giúp bị can, bị cáo và các đương sự khác về mặt pháp lý.'' Vì vậy, trong khi chưa có Pháp lệnh về luật sư, ngày 30/4/1984 UBND Thành phố Hà Nội được sự đồng ý của Bộ Tư pháp đã ra quyết định số 16/5/QĐ.TC thành lập Đoàn luật sư Hà Nội.

Sau gần 7 tháng chuẩn bị, Hội nghị thành lập Đoàn luật sư đã được tiến hành vào ngày 24/11/1984.

Các luật sư tham gia hội nghị thành lập Đoàn luật sư gồm có:

1. Vũ Như Giới

2. Nguyễn Thành Vĩnh

3. Trần Thế Môn

4. Vũ Khắc Toản

5. Nguyễn Thị Xuân An

6. Phan Châu

7. Nguyễn Văn Chi

8. Đặng Văn Doãn

9. Vũ Ngọc Duyên

10. Nguyễn Xuân Dương

11. Lê Minh Đức

12. Lê Duy Lương

13. Đỗ Xuân Sảng

14. Phùng Hiền Thiết

15. Trần Khắc Uẩn

16. Vũ Quý Vỹ

Hội nghị đã bầu Ban chủ nhiệm với nhiệm kỳ 3 năm gồm có:

- Luật sư Vũ Như Giới - Chủ nhiệm.

- Luật sư Trần Thế Môn - Phó chủ nhiệm.

- Luật sư Nguyễn Thành Vĩnh - Phó chủ nhiệm .

- Luật sư Vũ Khắc Toàn - Tổng thư ký

Hội nghị đã bầu Ban kiểm tra. Luật sư Trần Thế Môn được bầu làm Trưởng ban, các luật sư Nguyễn Đình Chi và Nguyễn Thị Xuân An được bầu làm Ủy viên.

Cuối nhiệm kỳ I, Hội đồng Nhà nước (nay là Ủy ban Thường vụ Quốc hội) ban hành Pháp lệnh Tổ chức luật sư ngày 18/12/1987.

Pháp lệnh Tổ chức luật sư ngày 18/12/1987 là văn bản về tổ chức và hoạt động của luật sư trong toàn quốc cho nên ngày 28/4/1988 Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội đã ra Quyết định 1874/QĐ.UB về việc Đoàn luật sư tiếp tục hoạt động theo Pháp lệnh ngày 18/12/1987.

II. Nhiệm kỳ II từ 2/1988 đến 12/1991

Hội nghị tổng kết Nhiệm kỳ I, mở đầu Nhiệm kỳ II được tiến hành vào các ngày 5 và 6 tháng 2/1988.

Hội nghị bầu Ban chủ nhiệm gồm:

- Luật sư Trần Thế Môn - Chủ nhiệm

- Luật sư Vũ Khắc Toản - Phó chủ nhiệm

- Luật sư Nguyễn Thành Vĩnh - Phó chủ nhiệm

- Luật sư Nguyễn Xuân Dương - Phó chủ nhiệm

- Luật sư Hoàng Văn Kế - Ủy viên

Ban kiểm tra gầm luật sư Trần Thế Môn là Trưởng ban, các luật sư Lê Minh Đức, Phạm Thị Khang là Ủy viên.

Sau khi có Quy chế  Đoàn luật sư, Bộ Tư pháp có Thông tư 313 ngày 15/4/1989 hướng dẫn thực hiện Quy chế. Căn cứ vào thông tư 313 ngày 15 tháng 04 năm 1989, Sở Tư pháp khi đó đã yêu cầu giải thể Đoàn luật sư Hà Nội, để thành lập Đoàn luật sư mới. Một số luật sư được Sở Tư pháp giao nhiệm vụ chuẩn bị thành lập Ban chủ nhiệm lâm thời mà không có sự tham gia của các thành viên Ban chủ nhiệm do Hội nghị toàn thể bầu ra. Đoàn luật sư Hà Nội thấy việc làm đó bất hợp lý nên đã đấu tranh để bảo vệ tính liên tục và tính hợp pháp của Đoàn luật sư. Kết quả là ngày 31/7/1991, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (nay là Chủ tịch nước) đã có Thông báo số 126, công nhận Đoàn luật sư Hà Nội đã được thành lập năng 1984 theo Quyết định của UBND T.P Hà Nội được tiếp tục hoạt động theo quy định của Pháp lệnh Tổ chức luật sư ngày 18/12/1987 và Quy chế Đoàn luật sư.

Nhiệm kỳ II lẽ ra kết thúc vào cuối năm 1990 nhưng do có sự vướng mắc về tính liên tục của Đoàn luật sư như nói trên nên Nhiệm kỳ II phải kéo dài đến hết năm 1991.

III. Nhiệm kỳ II từ 1/1992 đến 5/1995

Sau khi có Thông báo số 126 ngày 31/7/1991 của Chủ tịch Hội đồng Nhà rước công nhận tính hợp pháp, tính liên tục của Đoàn luật sư Hà Nội, ngày 6/1/1992, Đoàn đã họp Hội nghị toàn thể để bầu Ban chủ nhiệm, Ban Kiểm tra Nhiệm kỳ III. Luật sư Trần Thế Môn vì lý do sức khỏe xin nghỉ. Hội nghị đã bầu Ban chủ nhiệm gồm có:

- Luật sư Vũ Khắc Toàn - Chủ nhiệm.

- Luật sư Nguyễn Thành Vĩnh - Phó chủ nhiệm.

- Luật sư Lê Kim Quế - Phó chủ nhiệm.

- Luật sư Vũ Thiện Kim - Phó chủ nhiệm.

- Luật sư Trần Thị Phương Đức - Phó chủ nhiệm.

Luật sư Ngô Kiên được Hội nghị bầu làm Trưởng ban kiểm tra. Luật sư Hà Thị Ngân Giang và luật sư Vũ San được bầu làm Ủy viên Ban kiểm tra.

Ngày 214/1992, Đoàn đã thông qua bản ''Nội quy Đoàn luật sư”. Nội dung chủ yếu của Nội quy đã cụ thể hoá trách nhiệm của luật sư trong quá trình hoạt động nghề nghiệp. Luật sư có trách nhiệm với thân chủ của mình, đồng thời phải có trách nhiệm với xã hội, trách nhiệm bảo vệ pháp chế XHCN. Luật sư phải giữ gìn đạo đức nghề nghiệp: Trung thực, liêm khiết, dũng cảm bảo vệ cái đúng, bảo vệ lẽ phải.

Về đối ngoại, Ban chủ nhiệm đã tiếp và làm việc với nhiều Đoàn luật sư, luật gia các nước: Pháp, Mỹ, Thụy Sỹ, Trung Quốc. Năm 1992, Đoàn đã được kết nạp làm thành viên Hiệp hội Luật sư quốc tế. Năm 1993, luật sư Chủ nhiệm Vũ Khắc Toàn được chỉ định làm Phó chủ tịch Hiệp hội Luật sư quốc tế và làm thư ký của hiệp hội tại Đông Nam Á.

IV. Nhiệm kỳ IV từ 6/1995 đến 8/1998

Nhiệm kỳ IV lẽ ra bắt đầu từ đầu năm 1995, nhưng do mới tổ chức Lễ kỷ niệm 10 năm thành lập Đoàn nên Hội nghị toàn thể luật sư nhiệm kỳ IV được tổ chức vào các ngày 1 và 2 tháng 6 năm 1995. Hội nghị này không có báo cáo tổng kết nhiệm kỳ vì mới tổng kết trong Báo cáo kỷ niệm 10 năm.

Hội nghị chỉ có báo cáo sơ kết 6 tháng đầu năm 1995 và bầu Ban chủ nhiệm, Ban kiểm tra. Ban chủ nhiệm định bầu 5 thành viên, nhưng qua hai lần bỏ phiếu chỉ bầu được 4 thành viên gồm:

- Luật sư Vũ Khắc Toản - Chủ nhiệm.

- Luật sư Lê Kim Quế - Phó chủ nhiệm.

- Luật sư Vũ Thiện Kim - Phó chủ nhiệm.

- Luật sư Nguyễn Trọng Tỵ  - Phó chủ nhiệm.

Về Ban kiểm tra, luật sư Vũ San được bầu làm Trưởng ban và 2 luật sư Phạm Thị Khang và Dương Văn Tuệ được bầu làm Ủy viên.

Tháng 5/1996, luật sư Vũ Khắc Toàn qua đời. Ngày 13/7/1996, Hội nghị toàn thể luật sư bầu luật sư Lê Kim Quế làm chủ nhiệm Đoàn luật sư và quyết định số thành viên trong Ban chủ nhiệm là 3 người.

V. Nhiệm kỳ V từ 8/1998 đến 9/2002

Hội nghị tiến hành bầu Ban chủ nhiệm và Ban kiểm tra. Luật sư Lê Kim Quế được bầu lại làm Chủ nhiệm, luật sư Vũ Thiện Kim, luật sư Nguyễn Trọng Tỵ được bầu lại làm Phó chủ nhiệm.

Các luật sư Vũ San, Phạm Thị Khang, Dương Văn Tuệ được bầu lại vào Ban kiểm tra, do luật sư Vũ San làm trưởng ban.

Tháng 3 năm 1999, luật sư Nguyễn Trọng Tỵ vì lý do sức khỏe xin thôi giữ chức Phó chủ nhiệm. Hội nghị toàn thể luật sư đã bầu luật sư Hà Thị Ngân Giang làm Phó chủ nhiệm.

Ngày 25/7/2001, Ủy ban Thường vụ Quốc Hội đã thông qua Pháp lệnh mới về luật sư. Nội dung Pháp lệnh nổi bật một số điểm quan trọng là: Luật sư phải là người có bằng Cử nhân luật và phải qua lớp đào tạo về nghề luật sư mới được hành nghề, xác định Đoàn luật sư là tổ chức nghề nghiệp của các luật sư, còn tổ chức hành nghề luật sư là Văn phòng luật sư hoặc Công ty luật hợp danh, trong phạm vi toàn quốc sẽ có một tổ chức luật sư do Chính phủ quy định, kết hợp chặt chẽ việc quản lý của nhà nước với việc tự quản của tổ chức luật sư.

Pháp lệnh này nhằm củng cố và phát triển đội ngũ luật sư chuyên nghiệp có phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, phát huy vai trò của luật sư và tổ chức luật sư trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, hội nhập với quốc tế, đáp ứng yêu cầu về phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta.

Pháp lệnh này có hiệu lực từ ngày 1/10/2001. Chính phủ đã có Nghị định số 94/2001/NĐ.CP ngày 22//2/2001 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh. Đoàn luật sư T.P Hà Nội đã nghiên cứu, quán triệt các văn bản nói trên, đã xây dựng đề án chuyển đổi sang tổ chức mới và xây dựng điều lệ của Đoàn luật sư.

 

 

Tin khác:
» Luật sư nha trang Văn phòng Luật sư Minh Thanh và Cộng sự
» Đạo đức nghề nghiệp Luật sư
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
VIDEO CLIP
PHONG THỦY
QUẢNG CÁO
 
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ MINH THANH VÀ CỘNG SỰ
Địa chỉ: Số 08A đường Biệt Thự - P. Lộc Thọ - Tp. Nha Trang - Tỉnh Khánh Hòa - Việt Nam
Điện thoại: 0583.704.043 - Hotline: 0908.393.863 - MST: 4201446641
Email: minhthanh_nt@yahoo.com - Website: http://luatminhthanh.com